Cũng như bất kỳ quy trình tiêm nào, các tác dụng phụ và rủi ro tiềm ẩn đều có thể xảy ra với tiêm steroid ngoài màng cứng thắt lưng. Các tác dụng phụ thường là tạm thời và có thể chịu đựng được. Hiếm khi xảy ra các biến cố bất lợi nghiêm trọng.
Mục lục:
Tiêm Steroid ngoài màng cứng trong điều trị đau lưng mạn tính
Các lựa chọn trong kỹ thuật tiêm Steroid ngoài màng cứng
Lựa chọn bệnh nhân tiêm ngoài màng cứng trong điều trị giảm đau thần kinh
Mô tả quy trình thực hiện tiêm ngoài màng cứng
Tỷ lệ thành công trong giảm đau của tiêm Steroid ngoài màng cứng
Nguy cơ và các tác dụng phụ thường gặp của tiêm Steroid ngoài màng cứng

Rủi ro phổ biến nhất là việc tiêm không mang lại hiệu quả giảm đau, hoặc chỉ mang lại hiệu quả giảm đau tối thiểu. Thật thất vọng khi trải qua quy trình mà không nhận thấy sự thuyên giảm cơn đau có ý nghĩa, hoặc thấy rằng sự giảm đau ban đầu là thoáng qua và cơn đau ban đầu quay trở lại sau vài tuần.
Các tác dụng phụ có thể xảy ra của tiêm Steroid ngoài màng cứng
Các tác dụng phụ sau khi tiêm ngoài màng cứng thường không nghiêm trọng. Một vài ví dụ bao gồm nhưng không giới hạn:
- Buồn nôn
- Đau đầu
- Chóng mặt
- Ngất do lo lắng từ quy trình gây ra sự sụt giảm đột ngột nhịp tim và huyết áp
- Đỏ bừng mặt
Các tác dụng phụ này thường tự hết khi nghỉ ngơi. Đau tại vị trí tiêm, nếu có, có thể được điều trị bằng liệu pháp lạnh sử dụng túi chườm đá để giảm đau và/hoặc sưng.

Các biến chứng tiềm ẩn và biến cố bất lợi sau khi tiêm Steroid ngoài màng cứng
Mặc dù hiếm gặp, các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra sau khi tiêm steroid ngoài màng cứng và được thảo luận dưới đây.
Nhiễm trùng
Nhiễm trùng có thể xảy ra nói chung trong cơ thể, ảnh hưởng đến não và/hoặc tủy sống, hoặc xảy ra tại chỗ ở khu vực tiêm. Các ví dụ bao gồm:
- Áp xe ngoài màng cứng: Tích tụ mủ trong khoang ngoài màng cứng.
- Viêm màng não: Viêm các màng bao quanh não và tủy sống.
- Viêm xương tủy hoặc viêm đĩa đệm: Nhiễm trùng xương đốt sống hoặc đĩa đệm.
- Áp xe mô mềm: Tích tụ mủ bên trong các mô mềm tại vị trí tiêm.
Vi sinh vật từ da của bệnh nhân được cho là nguyên nhân phổ biến gây ra nhiễm trùng.
Chảy máu
Tổn thương các động mạch có thể gây chảy máu khu trú và tích tụ máu trong các mô mềm, khoang ngoài màng cứng hoặc các màng của tủy sống. Một khối máu tụ hoặc cục máu đông có thể hình thành bên trong động mạch, làm tắc nghẽn nguồn cung cấp máu đến các mô quan trọng, chẳng hạn như não và/hoặc tủy sống.
Thủng màng cứng
Việc vô tình đưa kim vào màng ngoài của tủy sống (màng cứng) có thể gây ra tình trạng thủng màng cứng. Tình trạng này khiến dịch não tủy (CSF) rò rỉ ra ngoài, làm giảm áp lực dịch não tủy trong não, dẫn đến đau đầu.
Tổn thương thần kinh
Tổn thương các dây thần kinh lân cận có thể gây ra các cảm giác bất thường, mất cảm giác hoặc co giật. Nếu các dây thần kinh đuôi ngựa bị tổn thương ở đáy tủy sống, nó có thể dẫn đến một tình trạng cấp cứu y khoa gọi là hội chứng đuôi ngựa. Hội chứng này gây mất kiểm soát ruột và bàng quang và phải được điều trị ngay lập tức để ngăn ngừa liệt nửa thân dưới.
Biến chứng hệ tim mạch
Đôi khi, tình trạng huyết áp thấp và giảm nhịp tim có thể xảy ra sau khi tiêm steroid ngoài màng cứng.
Rủi ro liên quan đến thuốc tê tại chỗ
Trong các mũi tiêm có chứa thuốc tê tại chỗ, nếu dung dịch đi vào mạch máu, nó có thể dẫn đến ngộ độc hệ thần kinh trung ương và/hoặc hệ tim mạch.
Rủi ro liên quan đến steroid dạng hạt
Các hạt lớn hơn trong steroid dạng hạt có thể vón cục lại và làm tắc nghẽn mạch máu, gây giảm cung cấp máu cho tủy sống.
Các rủi ro và biến chứng thường cao hơn ở các mũi tiêm steroid ngoài màng cứng được thực hiện trên tầng L3. Rủi ro phổ biến nhất là tiêm steroid vào mạch máu, điều này có khả năng xảy ra cao hơn ở những người trên 50 tuổi. Hiếm khi có thể xảy ra phản ứng dị ứng với thuốc steroid, thuốc tê tại chỗ hoặc thuốc cản quang.

Khi nào cần chăm sóc y tế ngay lập tức: Các triệu chứng và dấu hiệu báo động đỏ
Các triệu chứng nghiêm trọng sau khi tiêm steroid ngoài màng cứng cần được chăm sóc y tế ngay lập tức bao gồm:
- Đau đầu dữ dội khi ngồi dậy hoặc đứng và cảm thấy đỡ hơn sau khi nằm xuống, điều này có thể báo hiệu tình trạng thủng màng cứng.
- Sốt từ 38,3°C trở lên, có thể báo hiệu tình trạng nhiễm trùng.
- Giảm hoặc mất hoàn toàn kiểm soát ruột hoặc bàng quang trong khi bệnh nhân vẫn còn đang tê hoặc sau khi thuốc tê tại chỗ và tình trạng tê tạm thời đã hết, điều này có thể báo hiệu các cấp cứu y khoa, chẳng hạn như hội chứng đuôi ngựa.
- Cảm giác tê và/hoặc yếu ở (các) chân, có thể báo hiệu tổn thương thần kinh.
Việc gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu các triệu chứng này xảy ra là rất quan trọng. Ngoài ra, bất kỳ tình trạng khó chịu hoặc cảm giác bất thường nào cũng phải được thảo luận với bác sĩ.






