Tiêm Steroid ngoài màng cứng trong điều trị đau lưng mạn tính

Tiêm steroid ngoài màng cứng (ESIs) là một lựa chọn điều trị phổ biến cho nhiều dạng đau thắt lưng và/hoặc đau lan xuống chân. Phương pháp này đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ và được coi là một phần thiết yếu trong quản lý không phẫu thuật đối với đau thần kinh tọa và đau lưng dưới.

 

 

Thủ thuật này được gọi là tiêm steroid ngoài màng cứng vì nó bao gồm việc tiêm thuốc tê tại chỗ và thuốc steroid trực tiếp vào khoang ngoài màng cứng bao quanh tủy sống và các rễ thần kinh.

 

Các mục tiêu cốt lõi của tiêm steroid ngoài màng cứng trong giảm đau thắt lưng

Tiêm steroid ngoài màng cứng có thể giúp giảm viêm và kiểm soát cơn đau. Các mục tiêu cụ thể bao gồm:

  • Kiểm soát cơn đau bằng cách giảm viêm bên trong và xung quanh các rễ thần kinh.
  • Cải thiện khả năng vận động và chức năng ở vùng lưng dưới và chân.
  • Tạo điều kiện để bệnh nhân tham gia và đạt tiến triển với chương trình vật lý trị liệu và phục hồi chức năng toàn diện.

Trong lộ trình chăm sóc sức khỏe, hầu hết các trường hợp tiêm steroid ngoài màng cứng sẽ được khuyến nghị sau khi đã thử một loạt các phương pháp điều trị không phẫu thuật (như dùng thuốc và vật lý trị liệu) và trước khi cân nhắc đến phương án phẫu thuật. Vai trò của mũi tiêm thường là cung cấp sự giảm đau đủ để bệnh nhân quay lại các hoạt động hàng ngày và tiến triển trong vật lý trị liệu.

 

Lợi ích tiềm năng của tiêm steroid ngoài màng cứng

Hầu hết các bác sĩ lâm sàng đều đồng ý rằng tiêm ngoài màng cứng có thể mang lại lợi ích trong các đợt đau lưng và/hoặc đau chân cấp tính. Nhược điểm chính là phương pháp này không phải lúc nào cũng hiệu quả, và khi có hiệu quả, sự giảm đau có xu hướng tạm thời, kéo dài từ một tuần đến một năm. Thông thường, nếu mũi tiêm đầu tiên có hiệu quả, bệnh nhân có thể được tiêm tối đa 3 lần trong một năm.

Khi được thực hiện tại khoang ngoài màng cứng vùng thắt lưng, tiêm steroid có thể mang lại các lợi ích sau:

  • Giảm đau và viêm thần kinh: Steroid làm giảm sản xuất các chất hóa học gây viêm và giảm độ nhạy cảm của các sợi thần kinh với cảm giác đau, từ đó tạo ra ít tín hiệu đau hơn.
  • Hạn chế thuốc uống: Hiệu quả giảm đau từ các mũi tiêm này có thể giúp hạn chế hoặc loại bỏ nhu cầu sử dụng thuốc uống, vốn là những loại thuốc có thể gây tác dụng phụ khi dùng dài ngày.
  • Tiếp tục hoặc tái tham gia vật lý trị liệu: Mũi tiêm này có thể cung cấp sự giảm đau đủ để bệnh nhân tiến triển với chương trình vật lý trị liệu phục hồi chức năng.
  • Trì hoãn phẫu thuật: Sự giảm đau từ tiêm steroid ngoài màng cứng thắt lưng có thể giúp trì hoãn phẫu thuật; và nếu vật lý trị liệu đạt hiệu quả, nó có thể loại bỏ nhu cầu can thiệp ngoại khoa.

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh lý nền, nhu cầu của bệnh nhân cũng như sở thích và kinh nghiệm của bác sĩ, nhiều kỹ thuật khác nhau có thể được sử dụng để thực hiện tiêm ngoài màng cứng.

 

 

Các phương thức tiếp cận tiêm ngoài màng cứng

Loại hình tiêm này có thể cung cấp sự giảm đau cấp tính và đáng kể vì nó đưa một loại thuốc steroid có tác dụng chống viêm mạnh trực tiếp vào vùng bị đau gần (các) dây thần kinh cột sống. Một mũi tiêm ngoài màng cứng có thể được thực hiện bằng bất kỳ phương thức nào trong số các phương thức tiếp cận sau đây:

  • Đường qua lỗ liên hợp: Kỹ thuật này cho phép đưa dung dịch steroid một cách chính xác vào khoang ngoài màng cứng, gần khu vực mà dây thần kinh có khả năng bị kích thích. Kỹ thuật tiêm này nhắm mục tiêu vào các rễ thần kinh cụ thể để kiểm soát tình trạng viêm và đau.
  • Đường qua khe liên bản sống: Trong kỹ thuật này, kim được đưa vào từ phía sau của cột sống và thuốc được đưa vào khoang ngoài màng cứng. Phương pháp này ít chính xác hơn vì nó không đưa thuốc vào ngay sát rễ thần kinh mục tiêu, và dung dịch steroid có thể lan tỏa tự do trong khoang ngoài màng cứng.
  • Đường qua khe xương cùng: Đây là một phương thức tiếp cận chung, đơn giản để thực hiện, nhưng thuốc không đi trực tiếp đến nguồn gây đau trong khoang ngoài màng cứng và xung quanh các dây thần kinh. Phương pháp tiếp cận qua khe xương cùng có thể ít hiệu quả hơn nhưng được coi là an toàn và dễ thực hiện hơn. Phương pháp này có thể giúp kiểm soát cơn đau lan tỏa hoặc không khu trú.

 

Hiệu quả của tiêm steroid ngoài màng cứng

Nghiên cứu hiện có chỉ ra các kết quả nhìn chung là khả quan, với 70% đến 90% bệnh nhân cảm thấy giảm đau từ các mũi tiêm này, kéo dài từ một tuần đến một năm. Nếu thấy phản hồi tốt sau lần đầu, mũi tiêm thứ hai có thể được cân nhắc khi sự cải thiện từ mũi tiêm đầu tiên bắt đầu giảm dần. Thông thường, có thể thực hiện tối đa 3 mũi tiêm trong khoảng thời gian 12 tháng.

Trong khi nhiều nghiên cứu đã ghi nhận những lợi ích ngắn hạn của tiêm steroid ngoài màng cứng, dữ liệu về hiệu quả dài hạn lại ít thuyết phục hơn. Các tranh luận vẫn tiếp diễn liên quan đến hiệu quả của chúng trong việc giảm đau và cải thiện chức năng. Các tài liệu ủng hộ và phản đối chúng đều có sẵn.

Ngoài ra, có một số hạn chế trong các nghiên cứu đã được thực hiện, chẳng hạn như:

  • Nhiều nghiên cứu không bao gồm việc sử dụng chiếu dưới tăng sáng hoặc X-quang để xác minh vị trí đặt thuốc thích hợp, mặc dù thực tế là hướng dẫn bằng hình ảnh hiện nay đã được sử dụng thường quy.
  • Các nghiên cứu khác không phân loại bệnh nhân theo chẩn đoán và có xu hướng “gộp” các loại nguồn gây đau khác nhau lại với nhau.

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định vai trò của tiêm steroid ngoài màng cứng đối với đau lưng dưới và đau thần kinh tọa.

 

Chỉ định tiêm steroid ngoài màng cứng khi nào

Tiêm ngoài màng cứng thắt lưng thường được sử dụng trong điều trị các tình trạng gây kích ứng và/hoặc viêm các rễ thần kinh cột sống kèm theo đau lưng dưới và đau chân liên quan. Các tình trạng lưng dưới phổ biến nhất được điều trị bao gồm:

  • Thoát vị đĩa đệm thắt lưng
  • Thoái hóa đĩa đệm thắt lưng
  • Hẹp ống sống thắt lưng

Ít phổ biến hơn, đau lưng khu trú và cách hồi do thần kinh có thể được điều trị bằng các mũi tiêm này.

 

 

Chuyên viên y tê thực hiện các mũi tiêm

Các bác sĩ thực hiện loại hình tiêm này bao gồm các chuyên gia về cột sống và quản lý đau, chẳng hạn như bác sĩ phục hồi chức năng, bác sĩ gây mê, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, bác sĩ nội thần kinh và bác sĩ phẫu thuật cột sống. Quy trình tiêm thường diễn ra tại một trung tâm phẫu thuật, bệnh viện hoặc phòng khám của bác sĩ.

 

Quản lý tác dụng phụ: Khó chịu tạm thời và rủi ro của tiêm steroid ngoài màng cứng

Tiêm steroid ngoài màng cứng được coi là tương đối an toàn và ít xâm lấn. Các tác dụng phụ tạm thời có thể xảy ra trong một số trường hợp và bao gồm (nhưng không giới hạn):

  • Đau sau tiêm
  • Buồn nôn
  • Đau đầu
  • Chóng mặt
  • Ngất (phản ứng vận mạch)
  • Đỏ bừng mặt

Các tác dụng phụ này thường tự hết trong vài phút đến vài giờ. Các biến chứng nghiêm trọng, dù hiếm gặp, có thể bao gồm tổn thương tủy sống, thủng màng cứng và/hoặc đột quỵ.

 

Đánh giá nguy cơ bắt lợi  ở các tầng cột sống

Nhìn chung, tiêm ngoài màng cứng được thực hiện cho các tầng cột sống L4 hoặc thấp hơn mang lại ít nguy cơ biến chứng hơn so với các tầng cao hơn. Các mũi tiêm thường được thực hiện dưới sự hướng dẫn của chiếu dưới tăng sáng với thuốc cản quang giúp dẫn đường kim đến vị trí chính xác và giúp ngăn ngừa tổn thương thần kinh và/hoặc động mạch.

 

 

Đánh giá các tình trạng y tế cụ thể đi kèm trước khí thực hiện thủ thuật

Các mũi tiêm thường không được thực hiện khi có một số tình trạng y tế gây biến chứng, chẳng hạn như nhiễm trùng, khối u hoặc rối loạn chảy máu. Ngoài ra, các mũi tiêm có thể không được thực hiện trong trường hợp tiểu đường chưa kiểm soát, một số tình trạng tim mạch và mang thai.

 

Thuốc an thần và/hoặc thuốc tê có thể được sử dụng

Nếu cần thiết, một loại thuốc thư giãn có thể được đưa qua đường truyền tĩnh mạch (IV) ở cánh tay bệnh nhân, nhưng bệnh nhân thường tỉnh táo trong suốt quy trình này. Vùng điều trị ở lưng dưới được làm tê bằng mũi tiêm thuốc tê tại chỗ trước khi tiêm ngoài màng cứng, vì vậy quy trình tiêm ngoài màng cứng thường không gây đau.

 

Một quy trình tiêm steroid ngoài màng cứng có thể mất khoảng 30 phút để thực hiện. Cảm giác tê rân hoặc nóng nhẹ hoặc cảm giác bị áp lực có thể xảy ra khi thuốc đi vào khoang ngoài màng cứng. Khi việc tiêm hoàn tất, tình trạng kích ứng và khó chịu thường biến mất trong vòng vài phút. Bệnh nhân thường trở về nhà sau vài giờ. Các biện pháp phòng ngừa cụ thể sau khi tiêm được tuân thủ trong vài ngày tiếp theo.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *