Tiêm khớp diện và phong bế nhánh trong nhằm mục đích điều trị đau phát sinh từ các khớp diện của cột sống. Trong khi tiêm khớp diện được thực hiện trực tiếp vào trong bao khớp, thì phong bế nhánh trong lại nhắm vào các dây thần kinh nhánh trong – vốn là những sợi dẫn truyền tín hiệu đau từ khớp diện về não.
Mục lục:
Các phương pháp tiêm giảm đau vùng cổ và lưng
Tiêm steroid ngoài màng cứng (ESI)
Phong bế rễ thần kinh chọn lọc (SNRB)
Tiêm khớp cột sống và phong bế nhánh trong trong điều trị giảm đau cột sống
Tiêm khớp cùng chậu (SI Joint)

Cơ chế hoạt động
Cả hai kỹ thuật này đều được dùng để chẩn đoán và điều trị đau nguồn gốc khớp diện. Khi điều trị, thông thường steroid hoặc hỗn hợp steroid pha với thuốc tê sẽ được sử dụng. Cơ chế kiểm soát đau của hai phương pháp này có sự khác biệt:
Tiêm khớp cột sống: Các mặt diện khớp được bao quanh bởi một bao khớp cấu tạo từ mô màng hoạt dịch. Bao khớp này chứa hệ thống thần kinh phong phú và phần đệm phía trên của nó thường hợp nhất với bao mỡ của dây thần kinh cột sống. Khi mô màng hoạt dịch bị viêm, tiêm khớp diện có thể giúp:
- Ức chế sản sinh các hóa chất gây viêm, từ đó giảm đau.
- Làm giảm độ nhạy cảm của các thụ thể đau, khiến chúng gửi ít tín hiệu đau qua dây thần kinh hơn.
Có thể thực hiện nhiều mũi tiêm nếu tình trạng đau xuất phát từ nhiều khớp diện khác nhau.
Phong bế nhánh trong : Các dây thần kinh nhánh trong xuất phát từ nhánh lưng của dây thần kinh cột sống và thường chỉ có chức năng cảm giác (ngoại trừ một số nhánh nhỏ ở cổ kiểm soát các cơ nhỏ). Nhánh trong chi phối thần kinh rất phong phú cho khớp diện. Tất cả các phân đoạn khớp phía dưới mức C2-C3 đều nhận sự chi phối từ hai mức nhánh trong: mức ngang với khớp đó và một mức phía trên nó. Việc tiêm steroid gần các dây thần kinh nhánh trong có thể:
- Ức chế dây thần kinh gửi tín hiệu đau về não.
- Phong bế các sợi dẫn truyền cụ thể (sợi C) trong dây thần kinh, giúp giảm đau truyền về não.
- Giảm tính thấm của các sợi thần kinh đối với máu, làm giảm khả năng dẫn truyền đau. Tất cả các nhánh trong chi phối cho một khớp sẽ được điều trị cùng một lúc.
Đối với cả hai loại hình điều trị, tiêm chẩn đoán bao gồm việc đưa thuốc tê vào để xác định chính xác khớp diện hoặc các nhánh trong tương ứng gây đau. Quá trình này được hướng dẫn bởi X-quang hoặc siêu âm để đưa kim đến chính xác vùng đích. Thuốc cản quang có thể được sử dụng để tăng khả năng quan sát khớp và/hoặc dây thần kinh.

Tỷ lệ thành công tiêm khớp diện và phong bế nhánh trong
Tỷ lệ thành công của các phương pháp này thay đổi tùy trường hợp. Các nghiên cứu cho thấy có tới 92% bệnh nhân có thể thuyên giảm đau trong thời gian ngắn, thường là từ 1 đến 4 tuần sau tiêm. Theo thời gian, các triệu chứng có thể tái phát hoặc không. Một số bệnh nhân cần tiêm lặp lại để duy trì hiệu quả, trong khi những người khác có thể hết đau hoàn toàn hoặc lâu dài. Ở những người chỉ giảm đau tạm thời, các mũi tiêm này tạo ra một “cửa sổ cơ hội” để tiến triển trong vật lý trị liệu. Việc cải thiện sức mạnh và sự linh hoạt của cổ hoặc lưng có thể dẫn đến chức năng tốt hơn và giảm đau dài hạn.
Chỉ định tiêm khớp diện và phong bế nhánh trong
Kỹ thuật này được chỉ định cho:
- Hội chứng diện khớp.
- Đau cột sống đa tầng.
- Đau sau chấn thương Whiplash.
- Đau mãn tính nhưng kết quả chẩn đoán hình ảnh bình thường.
- Thoái hóa cột sống.
- Đau sau phẫu thuật.
Ước tính có khoảng 10% đến 15% khớp diện nhận sự chi phối thần kinh không điển hình từ các dây thần kinh khác ngoài nhánh trong. Đối với những trường hợp này, tiêm trực tiếp vào khớp diện có thể mang lại hiệu quả cao hơn.






