Hủy thần kinh trong thân đốt sống điều trị đau thắt lưng

Hủy thần kinh trong thân đốt sống là một lựa chọn điều trị cho đau lưng mạn tính gây ra bởi tổn thương các tấm tận đốt sống ở cột sống thắt lưng. Thủ thuật này có thể được khuyến nghị cho những người bị đau thắt lưng mức độ trung bình đến nặng và có các thay đổi đặc hiệu tại tấm tận được xác định trên cộng hưởng từ (MRI). Những thay đổi này thường được thấy tại các phân đoạn cột sống thắt lưng L3-L4, L4-L5 và L5-S1.

 

 

Thủ thuật này tạo ra một thương tổn nhiệt trên dây thần kinh dẫn truyền cảm giác cho tấm tận bị tổn thương – thần kinh trong thân đốt sống – để ngăn chặn các tín hiệu đau và cung cấp sự giảm đau kéo dài.

Các yếu tố thiết yếu của hủy thần kinh trong thân đốt sống là:

  • Tấm tận đốt sống là một cấu trúc mỏng cấu tạo từ sụn và xương kết nối mỗi đốt sống – các khối xương hình trụ tạo nên cột sống – và đĩa đệm cột sống kế cận – cấu trúc dạng đệm giúp hấp thụ lực.
  • Thần kinh trong thân đốt sống nằm bên trong đốt sống và phân nhánh thành một cụm các sợi thần kinh bên trong các tấm tận này.
  • Hủy mô – Ablation là một loại thủ thuật trong đó một thiết bị dạng kim mỏng được đưa vào vùng mục tiêu, và nhiệt được áp dụng để phá hủy một phần nhỏ mô thần kinh, ngăn chặn dây thần kinh truyền cảm giác đau từ tấm tận bị tổn thương lên não.

Thủ thuật hủy mô này bao gồm việc đưa thiết bị vào trong xương của đốt sống và nhắm mục tiêu vào khu vực của dây thần kinh nơi nó bắt đầu phân nhánh.

Các tên gọi thay thế cho hủy thần kinh trong thân đốt sống bao gồm:

  • Hủy thần kinh trong thân đốt sống bằng sóng cao tần vì cơ chế làm nóng là một đầu dò sóng cao tần.
  • Đốt rễ BVN (BVN là viết tắt của basivertebral nerve).

Như đã lưu ý ở trên, thần kinh trong thân đốt sống cũng có thể được gọi bằng từ viết tắt của nó là “BVN”.

 

Tại sao các tấm tận đốt sống trở thành nguyên nhân gây đau

Tấm tận đốt sống là một nguồn gây đau thắt lưng mạn tính phổ biến. Nghiên cứu cho thấy có tới 43% bệnh nhân bị đau thắt lưng mạn tính có tổn thương tấm tận đốt sống. Cơn đau gây ra do các tấm tận bị tổn thương được gọi là đau do đốt sống (vertebrogenic pain).

 

Tìm hiểu về cấu trúc tấm tận đốt sống

Các tấm tận có giải phẫu phức tạp và cung cấp một số chức năng:

  • Mỗi tấm tận bao gồm 2 lớp – lớp xương gắn vào thân đốt sống, và lớp sụn được gắn vào đĩa đệm cột sống.
  • Lớp xương cứng của các tấm tận cung cấp sự hỗ trợ và bảo vệ cho các đốt sống.
  • Lớp sụn mềm dẻo cho phép vận chuyển các chất dinh dưỡng và dịch vào đĩa đệm.

Các nhu cầu về cấu trúc đối nghịch của các lớp tấm tận và áp lực lên các cấu trúc này khiến chúng rất dễ bị tổn thương do hao mòn theo thời gian, chẳng hạn như từ các hoạt động cúi, xoay và nhấc vật nặng hàng ngày, nhiều môn thể thao, các công việc đòi hỏi khắt khe về thể chất và các quá trình lão hóa tự nhiên.

 

Khi nào tấm tận tạo ra cơn đau

Khi tấm tận đốt sống bị tổn thương, các sợi thần kinh trong thân đốt sống sẽ truyền tín hiệu đau lên não. Tổn thương cũng kích hoạt phản ứng viêm, gây hư hại thêm cho tấm tận và làm cơn đau trầm trọng hơn. Các tình trạng cột sống phổ biến được biết đến là nguyên nhân gây tổn thương tấm tận bao gồm:

  • Thoái hóa đĩa đệm thắt lưng
  • Thoát vị đĩa đệm thắt lưng

Các dây thần kinh trong thân đốt sống sẽ bị nhạy cảm hóa nếu các tình trạng này gây chấn thương trực tiếp đến mô tấm tận hoặc đặt lực cơ học quá mức lên tấm tận.

 

 

Thay đổi Modic ở tấm tận đốt sống

Những thay đổi trong cấu trúc của tấm tận đốt sống do tổn thương và viêm tạo ra các hình thái đặc trưng có thể quan sát được trên phim chụp MRI, gọi là thay đổi Modic (Modic changes). Thay đổi Modic được chia thành 3 loại chính dựa trên hình ảnh trên phim chụp MRI và tương ứng với tính chất của tổn thương tấm tận. Đốt thần kinh trong thân đốt sống chủ yếu được thực hiện ở những bệnh nhân có:

  • Modic loại 1 (viêm cấp tính) hoặc
  • Modic loại 2 (thoái hóa mạn tính).

Mục tiêu điều trị của đốt rễ BVN

Các mục tiêu chính của hủy thần kinh trong thân đốt sống là:

  • Giảm đau lâu dài
  • Tránh phải phẫu thuật

Thủ thuật này là một hình thức quản lý đau và không chữa khỏi nguyên nhân gốc rễ của cơn đau hoặc phục hồi tổn thương tấm tận. Việc cải thiện tình trạng đau thắt lưng cho phép bệnh nhân tham gia vào các hoạt động phục hồi chức năng như tập thể dục, vật lý trị liệu và điều chỉnh tư thế, tạo ra môi trường chữa lành tối ưu và giúp ngăn ngừa tổn thương tấm tận và/hoặc thoái hóa đĩa đệm nặng thêm.

 

 

Hiệu quả của đốt rễ thần kinh trong thân đốt sống

Giống như hầu hết các phương pháp điều trị đau thắt lưng, tỷ lệ thành công của tiêm tấm tận là khác nhau. Nghiên cứu hiện tại cho thấy:

  • Hơn một nửa số bệnh nhân trải qua hủy thần kinh trong thân đốt sống có sự giảm đau đáng kể và cải thiện chức năng.
  • Các triệu chứng bắt đầu cải thiện đối với hầu hết bệnh nhân trong vòng 2 đến 6 tuần sau thủ thuật, với lợi ích tối đa cảm nhận được vào khoảng 3 đến 6 tháng.
  • Khoảng 35% bệnh nhân hết đau hoàn toàn.

Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào tác động của thủ thuật này đối với đau thắt lưng và tình trạng chức năng ở những bệnh nhân không có thêm các biến chứng cột sống khác. Cần có thêm nghiên cứu để thiết lập lợi ích và độ an toàn của hủy thần kinh trong thân đốt sống khi tổn thương tấm tận được quan sát thấy ở những bệnh nhân có đau rễ thần kinh ở chi dưới.

Một số biến số ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của thủ thuật, chẳng hạn như:

  • Chẩn đoán lâm sàng chính xác cơn đau do đốt sống (vertebrogenic pain)
  • Kỹ năng và kinh nghiệm của bác sĩ thực hiện thủ thuật
  • Tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân
  • Các yếu tố lối sống của bệnh nhân, chẳng hạn như hút thuốc/tiêu thụ nicotine và mức độ thể lực

Việc tuân thủ các khuyến nghị về vật lý trị liệu và phục hồi chức năng sau thủ thuật cũng góp phần vào mức độ giảm đau và cải thiện chức năng sau thủ thuật này.

 

So sánh hiệu quả với các phương pháp điều trị tiêu chuẩn

Một nghiên cứu đã chứng minh rằng hủy thần kinh trong thân đốt sống giúp giảm đau cho nhiều bệnh nhân hơn so với tiêu chuẩn chăm sóc không phẫu thuật – thường là sự kết hợp của thuốc giảm đau, tiêm steroid ngoài màng cứng và các thủ thuật khớp mỏm sau. Các nghiên cứu bổ sung đã cho thấy sự giảm đau và cải thiện chức năng đáng kể và bền vững ở những bệnh nhân có đáp ứng không đầy đủ hoặc “thất bại” với các phương pháp điều trị tiêm cột sống trước đó.

 

 

Kết quả dài hạn

Mặc dù hủy thần kinh trong thân đốt sống là một thủ thuật mới hơn, các kết quả nghiên cứu cho đến nay cho thấy tiềm năng giảm đau lâu dài.

  • Cải thiện về đau và chức năng kéo dài đến 2 năm sau thủ thuật đối với 50% đến 70% bệnh nhân.
  • Một nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả kéo dài sau 5 năm. Cần có thêm nghiên cứu để hiểu đầy đủ về các lợi ích tiềm năng, rủi ro, mức độ giảm đau dài hạn và các vấn đề an toàn.

Bệnh nhân phù hợp với chỉ định đốt rễ BVN

Những cá nhân bị đau thắt lưng nghiêm trọng đáp ứng các tiêu chí sau đây sẽ được xem xét để hủy thần kinh trong thân đốt sống:

  • Đau thắt lưng kéo dài 6 tháng hoặc lâu hơn
  • Đáp ứng không đầy đủ với các liệu pháp không phẫu thuật như thuốc giảm đau và vật lý trị liệu
  • Suy giảm chức năng
  • Xác nhận sự trưởng thành của hệ xương trên chẩn đoán hình ảnh, nghĩa là xương đã ngừng phát triển
  • Thay đổi Modic loại 1 hoặc loại 2 trên MRI vùng thắt lưng

Nếu bệnh nhân không thể thực hiện chụp MRI, các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thay thế, chẳng hạn như chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cắt lớp vi tính phát xạ đơn photon (SPECT), có thể phát hiện các thay đổi ở tấm tận đốt sống.

 

Chống chỉ định và thận trọng

Hủy thần kinh trong thân đốt sống không được khuyến nghị khi nguy cơ biến chứng tăng lên đáng kể, bao gồm:

  • Nhiễm trùng hệ thống và/hoặc nhiễm trùng cột sống, chẳng hạn như viêm xương tủy
  • Mang thai
  • Trẻ em và thanh thiếu niên (do cột sống chưa trưởng thành hoàn toàn)
  • Máy tạo nhịp tim và/hoặc máy khử rung tim cấy ghép
  • Bệnh tim phổi nặng (chẳng hạn như suy tim hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính)

Cũng nên tránh thủ thuật này khi có sự hiện diện của các dụng cụ kết hợp xương, chẳng hạn như vít cuống sống hoặc thanh nẹp từ phẫu thuật cột sống trước đó tại vùng đích cần hủy mô, hoặc một giải pháp thay thế là xem xét tháo bỏ dụng cụ trước khi thực hiện thủ thuật này.

 

Các tình trạng y tế cần thận trọng bổ sung

Khuyến cáo cần thận trọng hơn trong một số tình trạng do khả năng gây chấn thương và/hoặc khó khăn khi thực hiện hủy mô:

  • Loãng xương
  • Ung thư di căn hoặc khối u cột sống ác tính
  • Rối loạn chảy máu
  • Béo phì bệnh lý (BMI lớn hơn 40)

Độ an toàn của các thủ thuật tiêm tấm tận đốt sống trong các tình trạng y tế khác nhau vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Giống như bất kỳ thủ thuật xâm lấn nào, khả năng phù hợp để thực hiện hủy thần kinh trong thân đốt sống bị ảnh hưởng bởi tình trạng sức khỏe chung, các tình trạng tim hoặc phổi nghiêm trọng, hoặc bất kỳ vấn đề nào ảnh hưởng đến việc thực hiện gây mê hoặc sử dụng thuốc an thần.

 

 

Các bác sĩ thực hiện thủ thuật hủy thần kinh trong thân đốt sống

Các loại hình bác sĩ chuyên khoa sau đây, những người có chuyên môn và chứng chỉ chuyên khoa về Quản lý đau (Pain Management), có thể được tham vấn để thực hiện đánh giá ban đầu và thực hiện thủ thuật:

  • Bác sĩ Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng
  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh can thiệp
  • Bác sĩ Gây mê hồi sức
  • Bác sĩ Phẫu thuật cột sống chỉnh hình
  • Bác sĩ Phẫu thuật thần kinh
  • Bác sĩ Nội thần kinh

Ngoài chứng chỉ chuyên khoa về Quản lý đau, bác sĩ cần phải được đào tạo chuyên sâu về lựa chọn bệnh nhân, kỹ thuật thực hiện thủ thuật và chăm sóc theo dõi sau hủy thần kinh trong thân đốt sống.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *