Đốt sóng cao tần (RFA), hay còn gọi là phẫu thuật đốt dây thần kinh bằng sóng cao tần, là một thủ thuật y khoa sử dụng nhiệt lượng để làm nóng một phần dây thần kinh dẫn truyền cảm giác đau. Thông qua một cây kim phát sóng cao tần chuyên dụng, bác sĩ sẽ tạo ra một tổn thương nhiệt tại dây thần kinh mục tiêu. Tổn thương này có tác dụng ngăn chặn dây thần kinh truyền tín hiệu đau lên não bộ. Phương pháp điều trị RFA thường mang lại hiệu quả giảm đau kéo dài hơn đáng kể so với các phương pháp tiêm trị liệu thông thường khác.

Việc thực hiện RFA ở nhánh thần kinh nào phụ thuộc vào vị trí đau của bệnh nhân:
- Điều trị đau cổ: Thủ thuật được thực hiện trên các nhánh thần kinh trong – đây là những dây thần kinh dẫn truyền tín hiệu đau từ các diện khớp của cột sống cổ.
- Điều trị đau thắt lưng hoặc đau vùng chậu sau: Thường liên quan đến khớp cùng chậu, thủ thuật sẽ được thực hiện trên các nhánh thần kinh ngoài.
Trước khi tiến hành đốt chính thức, phương pháp phong bế thần kinh chẩn đoán thường được thực hiện thử nghiệm trên một hoặc hai nhánh thần kinh. Mục đích là để xác định chính xác dây thần kinh nào đang gây đau. Nếu bệnh nhân có phản ứng tốt (giảm đau rõ rệt) sau khi phong bế chẩn đoán, dây thần kinh đó sẽ được chỉ định điều trị triệt để bằng RFA.
Cơ chế hoạt động của phương pháp đốt sóng cao tần

Tổn thương nhiệt trên dây thần kinh có thể được tạo ra bởi một trong ba phương pháp sau đây:
- Đốt sóng cao tần liên tục (CRF): Dòng điện cao áp liên tục được truyền qua để tạo ra một tổn thương nhiệt.
- Đốt sóng cao tần dạng xung (PRF): Các xung điện cao áp ngắn được truyền đi xen kẽ với các pha nghỉ.
- Đốt sóng cao tần làm mát bằng nước (WCRF): Sử dụng một loại kim chuyên biệt được đốt nóng nhưng đồng thời được làm mát bằng dòng nước lưu thông liên tục để ngăn chặn tình trạng quá nhiệt.
Để tạo ra các tổn thương nhỏ và có ranh giới rõ ràng, phương pháp CRF và PRF sẽ được sử dụng. Để tạo ra các tổn thương lớn hơn bao phủ vùng mô rộng hơn, phương pháp WCRF sẽ được lựa chọn.
Một khi tổn thương RFA được tạo ra, khả năng dẫn truyền đau của các sợi thần kinh sẽ bị mất đi và các tín hiệu đau sẽ không thể truyền tới não. Hiệu quả của RFA có thể kéo dài từ vài tháng đến vài năm, sau đó dây thần kinh thường sẽ tái tạo lại và cơn đau có thể quay trở lại hoặc không.
Kỹ thuật chụp X-quang huỳnh quang được sử dụng để dẫn đường cho kim điều trị đến đúng dây thần kinh mục tiêu.
Tỷ lệ thành công của phương pháp đốt sóng cao tần

Các nghiên cứu cho thấy những kết quả về hiệu quả giảm đau đạt được từ RFA như sau:
- RFA thực hiện cho diện khớp : Có thể giúp giảm đau cho khoảng 45% đến 60% bệnh nhân.
- RFA thực hiện cho khớp cùng chậu : Có thể giúp giảm đau cho khoảng 75% đến 86% bệnh nhân.
Sự thành công của thủ thuật thường phụ thuộc vào độ chính xác của chẩn đoán, sự biến đổi về giải phẫu thần kinh của từng bệnh nhân và kỹ thuật được sử dụng. Hiệu quả giảm đau thường kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm, mặc dù một số nghiên cứu đã ghi nhận hiệu quả lên đến 3 năm. Có thể thực hiện các lần bổ sung nếu bệnh nhân có đáp ứng tốt ban đầu.
Khi nào cần thực hiện đốt sóng cao tần ?

RFA được xem xét để điều trị đau vùng diện khớp ở cột sống cổ, ngực hoặc thắt lưng; điều trị đau đầu do rễ thân kinh chẩm cổ, điều trị đau khớp cùng chậu ở vùng chậu sau. Thông thường, RFA sẽ được thực hiện sau khi phương pháp phong bế nhánh trong hoặc tiêm vùng diện khớp đã mang lại hiệu quả giảm đau rõ rệt nhưng chỉ có tính chất tạm thời.
Những biến chướng không mong muốn của phương pháp đốt sóng cao tần
Trong vài ngày hoặc vài tuần đầu tiên, bệnh nhân có thể cảm thấy tê hoặc bỏng rát (tương tự như cháy nắng) tại vị trí tiêm, đặc biệt thường gặp khi thực hiện RFA ở vùng cổ. Nghỉ ngơi, chườm đá và sử dụng các loại thuốc bôi hoặc thuốc uống có thể giúp làm giảm sự khó chịu này. Các rủi ro, mặc dù hiếm gặp, có thể bao gồm: nhiễm trùng, tổn thương dây thần kinh lân cận, tổn thương mạch máu và/hoặc có cảm giác bất thường trên da tại vùng điều trị.

