Cũng như bất kỳ cuộc phẫu thuật nào, có một số rủi ro và biến chứng có thể xảy ra đối với phẫu thuật lấy đĩa đệm cổ lối trước, hay ACDF.
Mục lục:
Phẫu thuật lấy đĩa đệm và hàn xương Cột sống cổ lối trước (ACDF)
Quy trình Phẫu thuật lấy đĩa đệm và hàn xương cột sống cổ lối trước (ACDF)
Biến chứng có thể gặp của Phẫu thuật lấy đĩa đệm và hàn xương Cột sống cổ lối trước (ACDF)
Tỷ lệ xảy ra các rủi ro và biến chứng tiềm ẩn là khác nhau, phụ thuộc chủ yếu vào sự kết hợp của các yếu tố sau:
-
Kết quả thực hiện phẫu thuật ACDF của từng phẫu thuật viên cụ thể (nghĩa là tần suất biến chứng thay đổi tùy theo kinh nghiệm cảu phẫu thuật viên), và;
-
Các yếu tố nguy cơ của riêng từng bệnh nhân, chẳng hạn như tình trạng đĩa đệm, thể trạng của bệnh nhân (độ chắc của xương, bệnh tiểu đường, v.v.), bệnh nhân có hút thuốc hay không và các yếu tố khác.

.
Các rủi ro và biến chứng tiềm ẩn của phẫu thuật lấy đĩa đệm và hàn xương Cột sống cổ lối trước
Đối với phẫu thuật ACDF, các rủi ro và biến chứng tiềm ẩn chính có xu hướng xảy ra bao gồm:
-
Triệu chứng không thuyên giảm thỏa đáng sau phẫu thuật.
-
Xương ghép không lành để tạo thành khối hàn xương (khớp giả hoặc không liền xương).
-
Nuốt khó tạm thời hoặc kéo dài.
-
Khả năng rối loạn giọng nói do tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược (dây thần kinh chi phối các dây thanh âm).
-
Rách màng cứng, hoặc rò dịch não tủy.
-
Tổn thương rễ thần kinh.
-
Tổn thương tủy sống (tỷ lệ khoảng 1/10.000).
-
Chảy máu, tổn thương mạch máu lớn.
-
Nhiễm trùng.
-
Tổn thương khí quản/thực quản.
-
Khối máu tụ hoặc dịch tụ gây chèn ép đường thở.
Cho đến nay, biến chứng phổ biến nhất sau phẫu thuật là khó nuốt. Thực quản nằm ngay phía trước cột sống, cần được di động và kéo gọn sang bên trong quá trình phẫu thuật, điều này có thể gây khó nuốt. Tình trạng khó nuốt thường tự hết trong vòng vài ngày, nhưng có rủi ro kéo dài từ vài tuần đến vài tháng. Có một tỷ lệ rủi ro hiếm gặp là tình trạng khó nuốt sẽ trở thành vĩnh viễn.

Cũng có khả năng phát triển các triệu chứng tại các tầng đĩa đệm nằm trên hoặc dưới các đốt sống đã được hàn xương, được gọi là Bệnh lý tầng kế cận (Adjacent Segment Disease – ASD). Ước tính có khoảng 1/4 số bệnh nhân sẽ xuất hiện các triệu chứng từ những vấn đề ở đĩa đệm tầng kế cận kế cận sau 10 năm phẫu thuật.
.
Hiện vẫn chưa rõ liệu việc thực hiện phẫu thuật hàn xương, dẫn đến mất vận động giữa các đốt sống, có góp phần làm thoái hóa đĩa đệm nhanh hơn ở phía trên và phía dưới vị trí hàn hay không. Mặt khác, chính những yếu tố gây ra vấn đề tại (các) đĩa đệm cần phẫu thuật cũng có thể cuối cùng đã tác động đến các đĩa đệm khác. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu đầy đủ tất cả các yếu tố nguy cơ liên quan, từ đó có thể phòng ngừa tốt hơn trong tương lai.
.

.
Khác với phẫu thuật lấy nhân đệm vi phẫu trong điều trị thoát vị đĩa đệm thắt lưng, với ACDF sẽ ít có khả năng tái phát thoát vị đĩa đệm vì đĩa đệm đã được loại bỏ hoàn toàn. Nếu các triệu chứng phát triển từ cùng một tầng đĩa đệm sau phẫu thuật, nguyên nhân thường là do các xương không lành lại với nhau – được gọi là không liền xương hoặc khớp giả. Điều này có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lại lối trước hoặc phẫu thuật qua lối sau cổ, nhằm nỗ lực làm cho các xương lành lại hoặc “hàn” chắc chắn với nhau.
.
Bài viết này không bao gồm danh sách đầy đủ tất cả các rủi ro và biến chứng tiềm ẩn: giống như tất cả các cuộc phẫu thuật, Quý vị nên xem xét đầy đủ các rủi ro và biến chứng tiềm ẩn với phẫu thuật viên điều trị trước khi thực hiện phẫu thuật ACDF.
.






